Càn Long trả lại “lễ vật” và viết gì trong thư khiến Quốc vương “dở khóc dở cười”

Càn Long trả lại
Nguồn ảnh: Ghép ảnh

Quốc vương George III của Anh quốc sau khi đọc thư đã “dở khóc dở cười”. Cho đến nay, bức thư này vẫn đang được lưu giữ tại Nhà Bảo tàng nước Anh.

Trong lịch sử Trung Quốc cổ đại có những vị hoàng đế nào nổi danh nhất? Chúng ta nhất định phải nói một chút về Hoàng đế Càn Long của vương triều Đại Thanh. Thời kỳ Hoàng đế Càn Long chấp chính, danh vọng không ngừng được nâng cao.

Trong giai đoạn đầu cầm quyền, ông đã áp dụng chính sách “khoan hồng và nghiêm minh kết hợp” để việc cai trị toàn bộ vương triều trở nên chuẩn mực hơn, đồng thời còn chế định rất nhiều quy chế pháp luật, tuyển chọn người hiền tài, bình định các thế lực tông tộc… Nhờ vậy, cả đất nước hiện ra một cảnh tượng hưng thịnh phồn vinh, đưa thời kỳ “Khang Càn thịnh thế” đẩy lên đến đỉnh điểm.

Hoàng đế Càn Long sinh năm 1711, vào năm 1735 trở thành vị hoàng đế thứ sáu của nhà Thanh. Trong suốt 60 năm tại vị, ông đều rất chăm lo quản lý đất nước, về mọi phương diện đều có nhiều bước tiến vượt bậc. Vào năm 1790 – sinh nhật lần thứ 80, ông dẫn một nhóm người đến Nhiệt Hà giải quyết một số vấn đề về Tây Tạng.

Và lúc này, vào năm 1792, ở tận bên kia bờ đại dương, bá tước người Anh George Macartney đang chuẩn bị xuất phát, theo lệnh của chính phủ Anh, ông đi sứ Trung Quốc với lý do chúc mừng Hoàng đế Càn Long đại thọ 80 tuổi. Khi đó, ông mang theo rất nhiều nhà thiên văn học, toán học, nghệ sĩ, bác sĩ, còn có tổng cộng 600 rương “cống phẩm” trị giá 13.124 bảng Anh. Năm 1793, ông đặt chân đến Bắc Kinh, Hoàng đế Càn Long đã tiếp kiến họ tại khu nghỉ dưỡng núi Thừa Đức.

Đây không phải là một cuộc gặp gỡ dễ chịu, bởi vì triều Thanh yêu cầu sứ giả Anh quốc quỳ xuống dập đầu, nhưng Bá tước George Macartney kiên quyết từ chối, cho nên thế cuộc cứ ‘giằng co’ bế tắc như vậy. Cuối cùng, đôi bên đều thối lui một bước mới thôi, và chính thức gặp mặt vào ngày 14/9. Đầu tiên, Vương quốc Anh đưa ra 6 yêu cầu, chẳng hạn như cho phép các thương nhân Anh kinh thương tại duyên hải, lập ngân hàng nước ngoài ở Bắc Kinh để buôn bán, còn muốn lập một hòn đảo nhỏ để thương nhân của họ ở lại sinh sống,…

Sau đó, đoàn sứ giả Anh quốc đưa lên những ống nhòm, đồng hồ và các mô hình ‘pháo’ hạm mới được nghiên cứu… Tất cả những đồ vật này đều đã được họ chọn lựa cẩn thận, hy vọng rằng chính quyền nhà Thanh có thể cho phép họ kinh thương.

Càn Long, người cả đời đã từng nhìn thấy không biết bao nhiêu kỳ trân dị bảo, nói rằng: “Những vật này trong khố phòng của Trẫm khắp nơi đều có. Đèn treo tường pha lê, chẳng phải là đèn treo tường Viên Minh Viên sao? Đồng hồ, còn không bằng đồng hồ của các thợ đồng hồ ở thành Bắc Kinh! Muốn dùng những vật này đến hù trẫm? Không đời nào!”

Cuối cùng, đoàn sứ giả Anh quốc rời đi vào ngày 7 tháng 10, mang theo những món quà mà chính quyền nhà Thanh trả lại. Trong đó, còn có một bức thư do chính Càn Long viết cho Quốc vương Anh, chỉ vỏn vẹn 976 chữ, bày tỏ lòng biết ơn đối với việc nước Anh đã quan tâm đến nhà Thanh, đồng thời nói lý do từ chối giữ họ ở lại nơi này.

Kỳ thực, phong thư này về tổng thể là có lý, có căn cứ, mười phần đoan chính chân thành, mở đầu nói rằng: “Trẫm phê duyệt biểu văn, từ ý thành khẩn, có cái nhìn cung thuận chân thành, rất là khen ngợi”.

Ngoài ra, Càn Long còn nhiều lần cho rằng những thứ Anh quốc mang đến thực sự không đáng chú ý, và tuyên bố rằng: “Thiên triều uy đức bao trùm, vạn nước đến chầu, đủ loại vật quý giá, vượt núi non sông biển đến tập kết, không gì không có, nhưng xưa nay không quý kỳ xảo, cũng càng không cần bày biện đồ vật của nước các ông”.

Quốc vương George III của Anh quốc sau khi đọc thư đã “dở khóc dở cười”. Cho đến nay, bức thư này vẫn đang được lưu giữ tại Nhà Bảo tàng nước Anh.

Về chính sách bế quan tỏa cảng của triều Thanh, cho đến nay vẫn có không ít những ý kiến nhìn nhận khác nhau.

Một số người cho rằng: Từ bức thư do Càn Long viết, không khó để nhận thấy rằng triều Thanh thực sự không muốn tiếp nhận những điều mới mẻ. Hoàng đế Càn Long đặt Đại Thanh ở vị trí rất cao lớn, và coi Anh quốc là một nước nhỏ.

Thế nhưng lúc ấy nước Anh đang là tuyến đầu của cuộc ‘cách mạng’ công nghiệp lần thứ nhất, thậm chí sắp tiến vào cuộc ‘cách mạng’ công nghiệp lần thứ hai. Việc Càn Long trả lời như thế cho thấy kiến ​​thức của ông về nước Anh còn hạn chế. Ông đã không xem xét các mô hình ‘pháo’ hạm, trao đổi với các học giả Tây Âu để bổ sung kịp thời những kiến ​​thức lạc hậu của mình.

Cũng có người so sánh: Chính sách bế quan tỏa cảng của triều Minh và triều Thanh. Họ cho rằng, bối cảnh lịch sử của hai thời kỳ này về cơ bản là khác nhau. Triều Minh ban lệnh ‘cấm biển’ là do sau khi phái Trịnh Hòa đi du ngoạn một chuyến về, phát hiện trên thế giới quả thật không có chỗ nào lợi hại hơn so với nhà Minh, cho nên liền kiên trì chính sách ‘cấm biển’.

Ngoài ra, lúc ấy có không ít ‘đảng phái’ và ‘hải tặc’ Nhật Bản cấu kết với nhau trên danh nghĩa kinh thương, liên tục ‘xâm chiếm’ các vùng ven biển. Bên cạnh còn có một số ngoại tộc không ngừng nhòm ngó, triều Minh mới không thể không dùng lệnh ‘cấm biển’ để bảo vệ quốc dân mình. Tuy nhiên, chính sách ‘bế quan’ tỏa cảng của nhà Thanh phần lớn là do sự tin tưởng của nhà Thanh vào nền kinh tế nông nghiệp cá thể, còn có tư tưởng thâm căn cố đế của “Thanh triều thượng quốc”, do đó buộc phải đóng cửa đàm phán.

Tuy nhiên, bên cạnh đó một số người lại cho rằng: Hoàng đế Càn Long đã nói rất rõ ràng, “bất quý kỳ xảo”. Là bởi vì văn hóa truyền thống Trung Hoa coi trọng Thiên đạo, giảng cứu nội hàm, không coi trọng hình thức bề ngoài. Điều này so với con đường phát triển khoa học hiện đại vốn chú trọng bề ngoài của phương Tây là không phù hợp với nhau.

Không phải Càn Long quá tự tin, cũng không phải Càn Long lạc hậu, mà là con người ngày nay không thể lý giải được cảnh giới của cổ nhân, cho nên vô tri ‘chế giễu’ mà thôi.

Lan Hòa biên tập
Nguồn: NTDVN (Lý Tuệ)

Xem thêm

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.